Blog

LOÃNG XƯƠNG

BS: Trần Thanh Mỹ (*)

Tóm tắt:

Loãng xương còn được gọi là xốp xương, là một vấn đề sức khỏe cộng đồng đang cần được quan tâm với quy mô lớn là một “căn bệnh âm thầm – kẽ phá hoại thầm lặng”. Trong nhiều trường hợp bệnh không biểu hiện triệu chứng và do đó người mắc bệnh không biết mình bị bệnh cho đến khi đã quá muộn, hệ quả nghiêm trọng nhất là gãy xương một biến cố quan trọng đời người, không những đau đớn mà sau khi binh phục bệnh nhân còn gặp khó khăn trong sinh hoạt, cuộc sống bị suy giảm và nhất là tử vong.

Những tiến bộ trong nghiên cứu và tìm hiểu về bệnh loãng xương trong vòng 20 năm qua đã đem lại những hiểu biết ngày càng rõ hơn về quá trình phát triển của xương, tiến trình dẫn đến loãng xương các yếu tố nguy cơ, các cơ sở khoa học để đánh giá sức mạnh của xương, hoạt động của chu chuyển xương và liên quan của bệnh loãng xương với rất nhiều bệnh lý và các chuyên khoa khác như lão khoa – thấp khớp học, nội tiết chuyển hóa, chấn thương chỉnh hình, dinh dưỡng v.v… Đặc biệt những tiến bộ vượt bậc trong các lĩnh vực sinh học, di truyền học, thiết bị đo mật độ xương mới hơn và chẩn đoán hình ảnh tối tân đã làm thay đổi trong chẩn đoán và phòng ngừa, tiêu lượng điều trị bệnh loãng xương. Do đó: Phòng ngừa vả phát hiện sớm về bệnh loãng xương là trách nhiệm và chiến lược quan trong của mỗi chúng ta

I/. Định nghĩa bệnh loãng xương:

Bệnh loãng xương được tổ chức y tế thế giới (WHO – World Health Organization) định nghĩa sau đây :

Định nghĩa 1: Loãng xương là một bệnh với đặc điếm khối lượng xương bị suy giảm vi cấu trúc của xương (chất lượng của xương) bị hư hỏng. Dẫn đến tình trạng xương bị yếu và hệ quả tăng nguy cơ gãy xương.

Định nghĩa 2: Loãng xương là môt bệnh hệ thống về xương liên quan đến việc giảm khối lượng xương và thay đổi kiến trúc vi mô của mô xương dẫn đến gia tăng nguy cơ bị nứt xương và khả năng bị gãy xương.

* Khối lượng xương biểu hiện bằng:

  • Mật độ khoáng chất của xương (Bone Mineral Density-BMD).
  • Khối lượng xương (Bone Mass content – BMC)

* Vì cấu trúc của xương là những thành phần đan xen của các tế bào và mô tạo nên xương phản ánh chất lượng của xương

II/. Phân loại loãng xương:

1. Loãng xương nguyên phát:

  • Tăng quá trình hủy xưorng – giảm quá trình tạo xương, nguyên nhân các tế bào sinh xương (Osteoblast) bị lão hóa.
  • Sự hấp thu Calci ở ruột bị hạn chế. Sự suy giảm tất yếu các hormon sinh dục (nữ và nam).
  • Lượng (Estrogen) không còn nhiều nên khối lượng xương giảm rất nhanh váo độ tuổi 60 – 65 được gọi loãng xương sau mãn kinh (Postmenawposal Osteoporosis), sau đó tổc độ giảm của khối lượng xương chậm lại theo mỗi năm cho đến tuổi 70 – 75 thì nam giới cũng như nữ giới đều bị tinh trạng loãng xương – được gọi là loãng xương người già (Senile hay Age-Associated Osteoporosis).
  • Loãng xương nguyên phát thường xuất hiện muộn diễn biến chậm, tăng từ từ và ít có những biến chứng nặng nề.

2. Loãng xương thứ phát:

  • Loãng xương không là một bệnh mà là một triệu chứng của một bệnh khác – Loãng xương thứ phát có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, bệnh loãng xương có thể trở thành nặng nề hơn, sớm hơn nhiều biến chứng hơn, loãng xương có thể phát ra toàn thân do bị chấn thương, thuốc điều trị Corticosteroids, bệnh di truyền, bệnh cường tuyến thưọng thận, cường tuyến giáp, cường tuyến sinh dục, các bệnh gan, bệnh ác tính – ít vận động thể lực, bất động quá lâu ngày hoặc do nghề nghiệp và có thói quen sử dụng nhiều rượu bia, cà phê, thuốc lá làm tăng thải calci qua đường thận và giảm hấp thụ calci đường tiêu hóa.
  • Loãng xương thứ phát tuy ít gặp hơn so với loãng xương nguyên phát thông thường song cũng không phải là hiếm gặp, việc chẩn đoán và điều trị thường là một thách thức.

III/. Chẩn đoán:

1. Triệu chứng lâm sàng:

Trên lâm sàng đối với bệnh loãng xương nguyên phát thường không có dấu hiệu rõ rệt, bệnh diễn biến âm thầm không có dấu hiệu đặc trưng, chỉ hiện ra khi bắt đầu biến chứng.

  • Đau xương: Do xương đã mất khối lương nhiều từ 30% trở lên. cấu trúc bên trong bị rối loạn, các xớ xương bị gãy, vỏ xương bị nứt gây ra tình trạng đau (đau lưng dữ dội một cách tự nhiên).
  • Biến dạng cột sống: Cột sống có thể bị gù, vẹo hoặc giảm chiều cao do thân các đốt sống bị gãy xẹp. Trong một số trường hợp thì loãng xuơng xảy ra ở vùng đầu gối (gối bị cong vào trong) đau khi đi, hoạt động của người bị giới hạn.
  • Gãy xương: Triệu chứng và là hệ quả quan trọng nhất, vị trí thường gặp là gãy xương đốt sống (lưng và thắt lưng) – gãy cổ xương đùi – gãy đầu dưới xương quay, xuất hiện sau chấn thương rất nhẹ hoặc không rõ chấn thương.

2. Triệu chứng cận lâm sàng:

  • Trong các xét nghiệm về máu và nước tiểu không có dấu hiệu bất thường và phương diện sinh hóa học.
  • X quang, quy ước các xương dài vỏ xương bị mỏng, xương trở nên trong hơn, xớ xương mất nhiều giảm độ dày, thân xương khiến ống tủy rộng ra, xương đốt sống (lưng – thắt lưng) bị xẹp ở phía trước (gãy lún).
  • Do mật độ xương (BMD) dựa vào sự giảm hấp thụ năng lượng tia X kép (Dual Enery Xray Absorptiometry-DEXA)
  • Đo mật độ xương được xem là phương pháp chuẩn để chẩn đoán bệnh loãng xương.
  • Các phương pháp khác: Siêu âm. CT Scan hoặc MRT để đo mật độ xương, đặc biệt ở cột sống hoặc cổ xương đùi sau cùng có thể biết được qua sinh thiết đây là kỹ thuật sau cùng đế xác định nếu vấn đề còn chưa rõ loãng xương, kỹ thuật này ít được sử dụng.

3. Chẩn đoán xác định:

Dựa vào triệu chứng lâm sàng: đau xương, đau lưng, gãy xương sau chấn thương nhẹ, tuổi cao, có thể chẩn đoán xác định loãng xương đã có biến chứng gãy xương. Tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương bằng đo mật độ xương bằng chỉ số T (còn gọi là T-Score) tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi theo phương pháp DEXA.

  • Xương bình thường: T Score – 1SD trở lên
  • Thiếu xương (Osteopenia) Tscore trên – 1SD – 2,5SD.
  • Loãng xương (Osteoporosis) Tscore dưới –  2,5SD.
  • Loãng xương nặng: Tscore dưới – 2.5SD kèm tiền sử hiện tại có gãy xương
  • (SD là độ lệch chuẩn của mật độ xương trung bình của quần thể trong độ tuổi từ 20-30 tuổi).

4. Chẩn đoán phân biệt:

  • Các loãng xương thứ phát như di căn, tiêu hủy xương (Osteolytic metastases), kể cả các loại như đa tủy xương, bạch cầu Leucemie.
  • Bệnh tạo xương bất toàn(OSteogenesis-lmpergecta – OL).
  • Bệnh Schenermanns là một chứng bệnh thoái hóa xương sụn (OSteo – Chondrosis) xuất hiện từ tuổi thiếu niên làm tổn thương đến đốt sống có thể gãy gù.

IV/. Sinh bệnh lý:

Bệnh loãng xương là hiện tượng suy giảm khối lượng xương làm cho xương mong manh được thấy nhiều ở vùng xương xốp là vùng có hoat động gấp 4 lần vùng xương đặc – xương xốp được cấu tạo bằng những xương nối liền nhau giữa là những lỗ hồng chứa tủy đỏ để tạo ra máu, đó là nơi có nhiều hoạt động nhất của xương. Vì vậy, khi khối lượng bị giảm thì vùng xương xốp bị hậu quả trước nhất. Các xớ xương bị mất dần khả năng tạo xương kém – các vùng đó bị ảnh hưởng nhiều nhất đưa đến tình trạng đau ở những vùng đó như đau cột sống – đau xương chậu.

Kế đến là gãy xương vùng đấu trên xương đùi theo số liệu quốc gia, mỗi năm Việt Nam có khoảng 23.070 ca gãy cổ xương đùi và gãy liệu mấu chuyển. Trong khi đó các nước phát triển như Canada số liệu tăng lên rất nhiều như 300.000 trường hợp năm, sự tiên đoán của họ với sự tiến bộ khoa học, số người già tăng lên thì năm 2030 con số này sẽ tăng lên 4 lần (Việt Nam dự đoán con số này khoảng 40.700/năm)hoặc có thể đưa đến tình trạng xương bị vỡ hay gãy đó là những vùng xương xốp như cổ xương đùi, đầu dưới xương quay, hàm xương sống – vì lý do chống đở – của xương kém mà hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người nên hậu quả tất nhiên là đau nhiều ờ vùng đó, có khi nhiều khi ít, tùy trường hợp nhưng đặc điểm là đau khi chịu lực, khi đi, khi đứng. Ngoài ra, còn có những hậu quả khác như vóc dáng người thấp đi, nhỏ lại, lưng còng, chân cong hoạt động hàng ngày bị giảm và khi khối lượng xương bị mất đi 30% trở lên thì khả năng chống đỡ của xương rất kém có thể đưa đến tình trạng gãy xương. Trường hợp gãy xẹp xương sống do loãng xương xảy ra rất nhiều, khi đến 80 tuổi khối lượng ở vùng xưởng sống chỉ còn 50%.

• Chú ý: Như xương khi tuổi trẻ. Khi đến 65 tuổi số gãy xẹp xương sống vào khoảng 27% và các nguyên nhân do té là 33%, khuân vác 20% và tự nhiên là 50%. Khi xẹp xương sống thì lưng bị biến dạng đau nhiều từ lưng ra trước bụng.

V/.Phòng ngừa:

1. Nằm trong nguyên chung của dự phòng bệnh tật, phòng ngừa loãng xương được dựa trên hai phần: loại phòng ngừa nguyên phát và phòng ngừa thứ phát.

a. Phòng ngừa nguyên phát:

  • Là một hình thức phòng ngừa chủ động áp dụng các biện pháp ngăn ngừa cho một cộng đồng hay một nhóm cá thể đặc hiệu mà chưa có biểu hiện của loãng xương.

b. Phòng ngừa thứ phát:

  • Tập trung vào phòng ngừa và điều trị cho những đối tượng có mật độ xương thấp, người có tuổi.
  • Phòng ngừa loãng xương hiệu quả phải biết nguyên nhân đưa đến loãng xương nhưng (một số bệnh lý vừa mang tính chất đông, diễn biến nặng dần theo thời gian và tuổi tác mà không có một nguyên nhân đặc hiệu), do đó muốn phòng ngừa được bệnh loãng xương ta phải tìm ra được những yếu tố nguy cơ gây ra tình trạng loãng xương đó.
  • Di truyền :
    1. Làn da trắng hay da vàng
      • Nữ dễ bị hơn nam
      • Tiền căn gia đình
      • Vóc nhỏ
    2. Chế độ dinh dưỡng :
      • Ăn uống thiếu Calci và Vitamin D.
      • Phải ứng với sữa, tiêu thụ sữa hàng ngày ít
      • Uống nhiều rượu ảnh hưởng đến chất lượng xương
      • Suy dinh dưỡng thiếu đạm.
      • Dùng nhiều cà phê, trà (caffeine) tiết ca++ qua thận.
      • Ăn chay.
    3. Lối sống :
      • Hút thuốc ảnh hưởng co thắt mạch hoạt động tạo xương.
      • Mãn kinh sớm hay có kinh trễ cũng ảnh hưởng hoạt động tạo xương.
      • Ít vận động ảnh hưởng đến tuần hoàn
      • Vận động quá tải.
    4. Nột tiết :
      • Mập phì
      • Tuổi
    5. Thuốc :
      • Corticosteroids
      • Thuốc tráng bao tử dạng Alununium phosphate
      • Thyroxine, Heparin, thuốc trị ung thư, thuốc chống co giật, lợi tiểu.
    6. Bệnh nội khoa :
      • Bệnh tim mạch, xơ gan, bệnh thận mãn, bệnh phổi tắc Bệnh tim mạch, xơ gan, bệnh thận mãn, bệnh phổi tắc thiếu máu, cận giáp, viêm cột sống dính khớp, thoái hóa cột sống.

2. Cách phòng ngừa :

  • Cách đề phòng là loại bỏ các yếu tố nguy cơ mà ta có thể loại bỏ ra được là những yếu tố thuộc về lối sống, dinh dưỡng và phương pháp tập luyện.
  • Về lối sống : phải bỏ rượu, bỏ thuốc lá, tránh những loại thuốc uống có thể đưa đến tình trạng loãng xưởng.
  • Về ăn uống : thường các chất thức ăn được sử dụng có nhiều Calci là sữa và những thực phẩm từ sữa, tuy nhiên đối với đa số người Việt Nam cho đến nay ít có khuynh hướng sử dụng nhiều sữa, từ đó có tình trạng là có đông người Việt không chịu được sự tiêu hóa. Ngoài ra, ta có thể dùng loại cá, cua đồng, ốc, tôm, một vài loại mè, đậu nành, đậu hủ và những loại có thể làm cho một số lượng Calci tương đối đầy đủ. Điều quan trọng nhất là phải đảm bảo đầy đủ nhu cầu về Calci, trong suốt quá trình từ nhỏ cho đến khi trưởng thành, đó có thể đạt một khối lượng xương khá cao khi còn trẻ thì khi quá trình làm giảm khối lượng xương tự nhiên về sinh lý khi về già không quá nhiều để có thể đem đến tình trạng loãng xương mà gây ra loãng xương. Sự thiếu hụt về Calci trong khẩu phần ăn là một nguyên nhân ảnh hưởng đến tầm vóc của thanh thiếu niên và đưa đến tình trạng loãng xương ở người lớn, loãng xương làm đau nhứt, đau lưng, còng lưng, có thể gây ra hư răng, rụng răng sớm hoặc là loãng xương nhiều ở người có tuổi, đặc biệt là ở phụ nữ mãn kinh, phụ nữ sanh nhiều lần.
  • Để phòng ngừa bệnh loãng xương người ta phải tập vận động ngay cả khi loãng xương đã hình thành thì sự tập vận động sẽ làm cho quá trình loãng xương ngưng lại và xương có thể chắc hơn, tập vận động được áp dụng cho nhiều trường hợp nhất là trong trường hợp loãng xương do chấn thương. Sự vận động giúp cho cơ thể đem một số lượng Calci đến để bồi đắp và cũng như đem một số lượng chất đạm đầy đủ giúp cho xương được xây dựng lại chắc hơn và vững hơn.
  • Chú ý: Sự bất động là một nguyên nhân chính làm cho xương bị loãng, các công trình nghiên cứu cho thấy sự bất động trong chấn thương cũng như việc ít hoạt động trong cuộc sống bình thường làm cho xương trở nên yếu và loãng, hoạt động thể dục thể thao một cách đều độ giúp cho xương chắc hơn.
  • Tập luyện và vận động là tốt nhưng không phải là không có tác dụng phụ, tai biến gây hậu quả không tốt cho hệ xương khớp (tập căng thẳng quá sẽ làm cho xương bị loãng).
  • Tập vận động một cách điều độ là một cách hữu hiệu nhất giúp cho ta tránh loãng xương kèm với dinh dưỡng ăn uống đầy đủ chất đạm và chất Calci là giúp cho xương được chắc hơn, ngoài ra người ta còn dùng một số thuốc mà hiện nay hiệu quả gần như được chứng minh trong đó có Estrogen, Calcitonine và Bisphosnate

VI/. Điều trị loãng xương:

Điều trị loãng xương gồm 3 phần:

  • Ăn uống đầy đủ
  • Tập vận động.
  • Thuốc.

Để đảm bảo hiệu quả tối ưu trong duy trì và tăng và mật độ xương cũng như ngăn ngừa gãy xương và biến chứng – điều trị loãng xương cần được duy trì thường xuyên và lâu dài, thực hiện đồng thời các giải pháp và cá nhân hóa điều trị cho từng bệnh nhân cụ thể :

  1. Ăn uống đầy đủ :
    • Cần đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ giàu Calci (nhu cầu 1000 – 1500 mg) hàng ngày từ các nguồn thức ăn, sữa do đó ăn đầy đủ chất đạm và chất khoáng.
  2. Tập vận động :
    • Tùy theo độ loãng xương mà vận động cho phù hợp với lứa tuổi và tình trạng bệnh lý – Duy trì chế độ vận động hàng ngày, tránh nguy cơ té ngã, duy trì trọng lượng cơ thể ở mức lý tưởng, điều chỉnh lối sống nhằm hạn chế các yếu tố nguy cơ không có lợi cho xương.
    • Tập vận động chí ý ở chi trên, chi dưới, cột sống lương và sau đó là tập thăng bằng, tập tư thế làm giảm đau.
      • Ở tay : tập kéo dãn các cơ, tập mạnh ở vai, các cơ vùng cổ.
      • Ở chân : tập đứng, đi và chạy lụp xụp, nếu đau nhiều thì tập trong nước, khi đã mạnh cho tập đá tạ, tránh tập nặng.
      • Cột sống : tập duỗi lưng, nằm sắp ngẫng đầu chịu lực nhẹ.
      • Tập thăng bằng : đứng 1 chân nghiêng người, tập trân ván thăng bằng.
      • Tập tư thế : đi trước tấm kính, giữ đầu, lưng, chân thẳng.
      • Giảm đau : nghỉ ngơi, đắp nóng thuốc.
  3. Thuốc:
    • Các thuốc bổ sung (bắt buộc sử dụng hàng ngày hay suốt quá trình điều trị).
    • Calci: cần hỗ trợ hàng ngày.
    • Vitamin D
    • Hoặc chất chuyển hóa Vitamin D, Calcitriol thường chỉ định cho các bệnh nhân lớn tuổi hoặc suy thận vì không chuyển hóa được Vitamin D. Nên định lượng Vitamin D để bổ sung cho phù hợp.
    • Các thuốc chống hủy xương: làm giảm hoạt tính tế bào hủy xương (Osteoclasts).
    • Liệu pháp sử dụng các chất chống Hormon chỉ định đối với phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ cao hoặc có loãng xương sau mãn kinh.
    • Phối hợp nhiều thuốc.

Tóm lại: Loãng xương là một vấn đề lớn trong xã hội mà chúng ta có thể phòng ngừa để tránh những hậu quả gãy xương tai hại gây ra sự tốn kém trong gia đình cũng như trong xã hội lên hàng tỉ dolla ở các nước phát triển.

Những phương pháp phòng ngừa là dinh dưỡng đầy đủ chất đạm. Calcium, vi lượng giữ cân bằng giữa chất đạm, chất đường và chất béo, tập thể dục thường xuyên, tránh các tư thế xấu, tránh quá tải. Thuốc được chí định cho đúng đối tượng.

Loãng xương là một bệnh mà ta có thể phòng ngừa được bằng nhiều biện pháp và chiến lược quan trọng của mỗi quốc gia và chúng ta.

——————————

– Phó Chủ tịch Hội Chấn Thương Chỉnh Hình Việt Nam

– Ng. Giám đốc Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP.Hồ Chí Minh

– Ng. Chủ nhiệm Bộ môn Chấn Thương Chỉnh Hình – Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.Hồ Chí Minh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *