Blog

ĐAU VÙNG CHU VAI

Bs. Trần Thanh Mỹ (*)

Thuật ngữ (Đồng nghĩa)

  • Periarthritis of the shoulder joint
  • Periarthritis de Lepceale
  • Đau thấp ngoài khớp vùng đai vai

I/. Định nghĩa :

– Đau vùng chu vai được đặc trưng bởi khởi đầu thầm lặng. Đau và tầm độ vận động chủ động và thụ động giảm, trong khi nguyên nhân còn chưa biết nhưng dường như là do một tiến trình viêm tạo nên (đau vùng chu vai là thuật ngữ dùng chung cho các bệnh lý của các cấu trúc phần mềm khớp vai: gân, túi thanh dịch, bao khớp, không bao gồm các bệnh lý có tổn thương đầu xương, sụn khớp).

II/. Cơ thể học chứng năng và miêu tả:

– Khớp vai là khớp di động nhất của cơ thể, đo đó sự không vững của khớp vai cũng rất đáng kể, thêm nữa đây là một khớp treo bị kéo xuống dưới bởi trong lượng cánh tay, khớp vai có mặt khớp ít tương hợp, mặt khớp trước rộng hơn mặt khớp sau.

– Giữ khớp giữa chỏm xương cánh tay và ổ chão xương bả vai được đảm bảo nhờ các cơ và dây chằng, bao khớp cùng tạo thành hệ thống treo.

III/. Bệnh học :

1) Viêm gân trên vai (Supraspinatus tendinitis) thường thấy khi đau chu vai. Cơ trên vai có nhiệm vụ áp đầu xương cánh tay vào hõm chén xương bả vai, cho mấu động khỏi chạm vào đầu gai và đằng khác cơ Delta kéo cánh tay để cánh tay dang ra, gân cơ trên vai vì ở phần cao nhất cho nên dễ cọ sát với mấu đầu gai có thể bị sưng phù bị đóng can xi hoặc đứt một phần hoặc toàn phần.

2) Viêm gân cơ trên gai hay kèm theo viêm túi nhớt (Bursa) dưới cơ Delta (Subdeltoid Bursitis, Boursite sous deltoidienne)

3) Viêm gân đầu dài có hai đầu (Long head of Biceps – Longuepotion du bicep) gân luôn bị gập và cọ vào rãnh hai đầu khi vận động dễ bị phản ứng viêm.

IV/. Tần xuất :

– Sau một chấn thương nặng hoặc nhẹ vùng đau vai

– Người làm việc bằng tay nhiều

– Đối tượng thường mắc bệnh là bệnh nhân nữ tuổi từ 40 – 60

– Đau và mất dần vận động xuất hiện vô cớ, không rõ đích xác lúc nào, từ bao giờ.

V/. Triệu chứng và dấu chứng :

1) Thăm khám :

– Phải thăm khám kỷ để tìm rõ nơi nào bị bệnh, thường phát hiện giảm rõ rệt cả tầm độ vận động chủ động lẫn thụ động, khi so sánh với khớp vai bình thường có thể không thấy đau trong một tầm hoạt động nào đó.

– Những đau nhói ở vai khi : Giơ tay lên chải đầu, Đưa tay ra sau để mặc áo.

– Viêm gân trên vai: Ấn vào vai phía sau thấy đau và bệnh nhân chỉ dang vai tới chừng 45o là phải ngừng lại vì đau.

– Viêm bao nhớt dưới cơ Delta : Ấn vào phía ngoài vai thấy đau.

– Viêm gân đầu dài cơ hai đầu :

  • Ấn vào phía trước ngoài, vai bệnh nhân thấy đau.
  • Giơ tay ra trước chừng vài chục độ là phải ngừng lại vì đau.

2) Chẩn đoán bằng cận lâm sàng :

– X-quang thường quy của khớp vai được chỉ định để loại trừ lắng đọng canxi hay có khối u trước đó, các hình ảnh X-quang này thường là bình thường. Khớp đổ hay MRI được chỉ định ở những bệnh nhân nào đau hay tầm độ vận động không cải thiện sau 3 tháng điều trị, khớp đồ sẽ phát hiện để thể tích giảm trong khớp mà nó được nhận ra nhờ chỉ có một lượng nhỏ (< 5ml) chất cản quang có thể được tiêm vào trong khớp.

VI/. Chẩn đoán phân biệt :

– Gãy đầu trên xương cánh tay : (chứng cứ trên x quang thường quy)

– Viêm xương khớp : (chứng cứ trên x quang thường quy)

– Đứt chóp xoay : (tầm độ vận động bình thường)

– Mất vững khớp vai : (tầm độ vận động thụ động bình thường)

– Khối vu vùng vai : (hiếm – phát hiện trên x-quang)

VII/. Điều trị :

– Điều trị đau vùng chu vai trong đại đa số trường hợp bắt đầu bằng điều trị bảo tồn theo các quy tắc chung (trừ trường hợp đứt gân hoàn toàn rõ rệt)

– Giản bớt mức độ lao động nặng nhọc, giảm biên độ lao động liên tục, trường hợp đau nhiều tạm thời nghỉ lao động.

1) Dùng thuốc kháng viêm toàn thân, vật lý trị liệu.

– Tập vật lý trị liệu đúng lúc, đúng mức độ và hợp lý, rất quan trọng chính trong điều trị (vận động chủ động hoặc thụ động phải thực hiện thận trọng không được gây đau đớn).

Chú ý : Khuyến cáo bệnh nhân cần có thời gian trung bình để phục hồi là 2. – 2,5 năm để tầm độ vận động được cải thiện và giảm đau đi.

2) Chích thuốc

-Cần biết rõ nơi nào bị tổn thương để chích cho đúng (phải thận trọng và được bởi bác sĩ chuyên khoa).

3) Đắp ấm phối hợp với vận động.

– Đắp ấm khớp vai sau đó xoay bóp và tập khớp vai ngày 3 – 4 lần, mỗi lần từ 15 – 30 phút.

4) Phẩu thuật : Phẩu thuật mục đích và có chỉ định rõ ràng.

a) Cắt bỏ nơi nhiễm canxi.

b) Tái tạo gân trên vai khi đã rách hoặc đút hẳn.

c) Cắt bỏ đoạn gân trên hai đầu dài và gắn khúc dưới vào rảnh hai đầu

d) Khi các gân của chỏm cơ xoay bị hẹp giữa mõm cùng vai, mõm qua và dây chằng giữa hai mõm này, phẩu thuật nhằm cắt đứt dây chằng qua đòn và tái tạo mõm cùng vai. Kết quả rất tốt có thể làm dưới nội soi.

Tóm lại :

– Đau vùng chu vai khởi đầu rất thầm lặng, đau và mất dần vận động mà không có một tổn thương bất kỳ nào rõ rệt phải khám kỹ để tìm rõ nơi nào bị bệnh. Điều trị bảo tồn và vật lý trị liệu với chương trình tập vai tại nhà là mấu chốt của điều trị khởi đầu, cần có thời gian để phục hồi. Là một bệnh hậu quả có hại là mất vận động vai và đau mãn tính nếu không điều trị.

Chú ý : Đầu trên xương cánh tay còn ăn khớp với một vòm gồm có :

  • Cơ Delta (deltoid – deltoide)
  • Mấu đầu vai (acromion – acromion)
  • Túi nhớt dưới tam giác (subdeltoid bursa, boursous deltoidienne)
  • Cơ trên gai (sous epineux – supnaspinatus)
  • Cơ dưới gai (infraspinatus sous epineux)
  • Cơ tròn nhỏ (teresminor – petite round)

——————————

– Phó Chủ tịch Hội Chấn Thương Chỉnh Hình Việt Nam.

– Ng. Giám đốc Bệnh viện Chấn Thương Chỉnh Hình TP.Hồ Chí Minh.

– Ng. Chủ nhiệm Bộ môn Chấn Thương Chỉnh Hình – Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, TP.Hồ Chí Minh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *